728 x 90

Cách điều trị dị tật lỗ tiểu thấp

Cách điều trị dị tật lỗ tiểu thấp
Thể tầng sinh môn áp dụng kỹ thuật vạt da tại chỗ để cuộn ống phối hợp với vạt cuộn ống từ da niêm mạc lưng dương vật hoặc vạt niêm mạc từ bao quy đầu tự do.
Share on Google+
Cách điều trị dị tật lỗ tiểu thấp
Phân loại dị tật lỗ tiểu thấp của Duckett. Ảnh: TD.
Duckett phân loại lỗ tiểu thấp dựa vào vị trí của lỗ sáo sau khi dựng thẳng dương vật, chia thành 3 nhóm lớn và 9 thể chi tiết gồm: Thể quy đầu, vành quy đầu, dưới vành quy đầu, thể trước dương vật, giữa dương vật, sau dương vật, bìu dương vật, thể bìu, thể tầng sinh môn. 
Dị tật lỗ tiểu thấp có thể có hẹp nên bệnh nhân cần được kiểm tra và xác định mức độ hẹp. Trường hợp có hẹp nên nong mở rộng. Thông thường có sự gia tăng tinh hoàn ẩn ở những trẻ lỗ tiểu thấp nên cần thăm khám bìu xác định tinh hoàn.
Trẻ thể bìu dương vật hoặc thể tầng sinh môn thường có bìu chẻ đôi và không rõ giới tính nên cần xét nghiêm nhiễm sắc thể đồ. Thêm vào đó cần soi niệu đạo và soi bàng quang để đánh giá xem cơ quan sinh dục bên trong có phát triển bình thường không. Ngoài ra cần kiểm tra bất thường bẩm sinh của thận, niệu quản.
Bệnh nhân cần cũng được đánh giá chính xác vị trí và kích thước miệng sáo, mức độ cong dương vật, kích thước dương vật, tình trạng niêm mạc quy đầu và da lưng dương vật, trục dương vật, niêm mạc của máng niệu đạo. Khám toàn thân cần được tiến hành để phát hiện các dị tật phối hợp: tinh hoàn không xuống bìu, túi thừa tuyến tiền liệt, thoát vị bẹn, thận lạc chỗ, niệu quản đội, niệu qủan phình to, lưỡng tính giả, loạn sản tuyến sinh dục.
Việc điều trị dị tạt này cần đạt được 2 mục đích: chuyển vị lỗ sáo ra đỉnh dương vật và dựng thẳng đứng dương vật. Xu hướng hiện nay là phẫu thuật sớm, thời gian mổ thích hợp ở độ tuổi trước khi đến trường, tức là từ 2 đến 5 tuổi.
Dựa vào kết quả nghiên cứu đã tiến hành tại Viện Nhi quốc gia, việc lựa chọn kỹ thuật mổ được khuyến cáo dựa trên bệnh trạng của từng người:
Với thể quy đầu, vành quy đầu không có cong dương vật thì áp dụng kỹ thuật MAGPI (Mateal advancement and glanduloplasty), kỹ thuật Mathieu hoặc tịnh tiến niệu đạo.
Thể dương vật thì áp dụng kỹ thuật vạt úp nếu dương vật không cong hoặc kỹ thuật vạt úp Duckett. Trường hợp dương vật cong thì dùng kỹ thuật vạt cuộn ống.
Thể bìu dương vật điều trị bằng kỹ thuật vạt cuộn ống nếu chiều dài niệu đạo không bị thiếu hụt quá lớn. Hoặc kỹ thuật Duckett cuộn ống theo chiều ngang, kỹ thuật Devine Horton, vạt da bìu để cuộn ống tại chỗ phối hợp với vạt cuộn ống từ da niêm mạc lưng dương vật nếu chiều dài niệu đạo bị thiếu hụt quá lớn. Cũng có thể tiến hành kỹ thuật Hodgson, Perovic theo trục dọc.
Thể tầng sinh môn áp dụng kỹ thuật vạt da tại chỗ để cuộn ống phối hợp với vạt cuộn ống từ da niêm mạc lưng dương vật hoặc vạt niêm mạc từ bao quy đầu tự do.
Thi Trân